Quán chiếu về các tư thế của thân thể

Quán chiếu về các tư thế của thân thể

Quán niệm về các tư thế của thân thể

Trong kinh Bốn lĩnh vực quán niệm, sau khi quán niệm về tứ đại trong cơ thể, ta sẽ tiếp tục tu tập quán niệm về các tư thế của thân thể. Có bốn tư thế của thân thể, gọi là tứ uy nghi: đi, đứng, nằm và ngồi. Ta ý thức rõ ràng các tư thế ở bản của thân thể ta. Khi đi, biết mình đang đi; khi đứng, biết mình đang đứng; khi ngồi, biết mình đang ngồi; khi nằm, biết mình đang nằm.

Quán chiếu về các tư thế của thân thể
Quán chiếu về các tư thế của thân thể

Ta niệm dụng ánh sáng quán niệm vào các tư thế của thân thể, gọi là tứ uy nghi. Tứ uy nghi bao gồm: uy nghi đi, uy nghi đứng, uy nghi ngồi, uy nghi nằm là những uy nghi bình thường tự nhiên của mỗi chúng sinh. Bốn uy nghi này là sắc pháp phát sinh từ tâm, có thể làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ. Phép quán niệm này thuộc về lĩnh vực quán thân thể trong thân thể.

Chúng ta bắt đầu tu tập ý thức về hơi thở, nhận diện tình trạng của hơi thở và làm lắng dịu hơi thở. Tiếp theo, ta tu tập ý thức về thân thể, ôm ấp, chăm sóc thân thể, làm cho thân thể thể lắng dịu, chú ý và mỉm cười với từng bộ phận của thân thể. Ta quán niệm những yếu tố tạo nên thân thể thể và mỉm cười với từng yếu tố ấy trong thân thể thể ta. Rồi hàng ngày, một cách đều đặn ta tu tập quán niệm về các tư thế của thân thể trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc. Đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc cho thật vững chãi và thảnh thơi.

Quán niệm về thân thể đưa tới sự quán niệm về các tư thế của thân thể. Mỗi các tư thế đều có ý nghĩa riêng biệt. Khi khom xuống, ý thức rõ ràng là mình đang khom xuống. ”Thở vào, biết mình đang khom xuống để nhặt cây bút. Thở ra, biết mình đang nhặt cây bút.” Ta ý thức từng động tác, từng tư thế của thân thể ta. Ví dụ, mỗi buổi sáng khi đun nước để chế cà phê hoặc pha trà, ta có thể sử dụng thời gian chế cà phê hoặc pha trà để tu tập quán niệm.

Ta ý thức từng tư thế như cử chỉ, từng động tác của ta trong lúc chế cà phê hoặc pha trà. Ta mỉm cười với từng động tác, cử chỉ ấy của thân thể thể, dù đó là một động tác rất nhỏ. Tu tập như thế giúp ta thiết lập được vững mạnh năng lượng quán niệm và nó đem lại cho ta rất nhiều niềm vui, thân thể khỏe mạnh. Ta hạnh phúc là vì trong đời sống hàng ngày ta biết cách thắp lên ánh sáng quán niệm và niệm dụng vào mỗi cử chỉ và hoạt động của thân thể thể. Ta không còn sống trong sự quên lãng, không sống như một người mộng du nữa. Ta làm tất cả mọi cái trong ánh sáng quán niệm. Ta hoàn toàn làm chủ các hoạt động của thân thể thể ta. Quán niệm là sự hiện diện của Bụt, là năng lượng của Chúa Ki Tô, là chất thánh trong ta. Quán niệm không phải là một cái gì trừu tượng. Hạt giống quán niệm đã sẵn có trong tâm thức ta. Tất cả chúng ta đều có khả năng tiếp xúc với hạt giống quán niệm và làm cho nó biểu hiện thường xuyên trong đời sống hàng ngày.

Chắc chắn bạn đã từng được nghe kể về câu chuyện của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Đây là một câu chuyện quý giá về phép quán niệm. Lúc thầy còn làm sa di, một hôm Thầy của thiền sư dạy thiền sư làm giùm Thầy một việc. Thiền sư rất thương kính Thầy và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Thầy giao phó, làm bất cứ điều gì có thể để đem lại niềm vui cho Thầy. Sau khi tiếp nhận xong lời dạy, thiền sư liền lui ra để đi làm. Nhưng do hạnh phúc quá, thiền sư đã mở cửa và đóng cửa rất hấp tấp, không có quán niệm. Thấy vậy, Thầy thiền sư gọi thiền sư trở lại và nói rất nhỏ nhẹ rằng, ”Này con, con hãy đi ra trở lại. Lần này con nhớ mở cửa và đóng cửa cho thật từ tốn, nhẹ nhàng, có quán niệm nghe con.” Thiền sư chắp tay xá Thầy, rồi lui ra. Lần này thiền sư biết thiền sư phải làm gì. Thiền sư đã đi từng bước thật quán niệm tới cửa, đặt bàn tay lên núm cửa, rồi nhẹ nhàng mở cửa, bước ra ngoài và đóng cửa thật từ tốn; tất cả mọi động tác, mọi cử chỉ đều được làm trong quán niệm. Từ đó về sau Thầy thiền sư không cần phải nhắc nhở thiền sư lần thứ hai. Thiền sư không bao giờ quên bài học quý giá ấy.

Đóng cửa và mở cửa là một phần của sự tu tập quán niệm để làm cho thân thể tâm lắng dịu và bình an trở lại. Hãy tu tập chăm chỉ mở cửa và đóng cửa trong quán niệm để nhiều người được thừa hưởng niềm an lạc và hạnh phúc tỏa ra nơi hành động mở cửa và đóng cửa. Bạn đã được học cách chăm sóc, tiếp xúc với cơ thể bằng hơi thở quán niệm. Đây là sự tu tập rất quan trọng. Bạn không cần phải trở thành một vị giáo thọ mới có thể tổ chức được những ngày tu quán niệm. Bạn có thể dành một ngày cuối tuần để trở về với chính mình, tu tập chăm sóc cơ thể và sống hài hòa với cơ thể mình. Nếu muốn, bạn có thể mời thêm một số bạn bè cùng tu tập. Một ngày hoặc vài giờ tu tập quán niệm như thế là cơ hội để thân thể tâm được nghỉ ngơi, phục hồi lại sự tươi mát và thư thái. Bốn phép thở đầu của kinh Quán Niệm Hơi thở nếu được tu tập đúng cách, ta thấy tình thương của Bụt dành cho ta rất lớn. Bụt chỉ dạy cho ta những phương pháp tu tập thật thực tiễn, khoa học và hữu hiệu.

Quán niệm đi

Lúc còn thơ bé mới chập chững biết đi, nếu bước thấp, bước cao, lùi một bước, tiến một bước.. luôn có cha mẹ hoặc anh chị dìu dẫn. Trưởng thành hơn, mỗi bước đi phải chứa đầy đủ uy nghi tế hạnh, để làm mô phạm cho người sau. Đi trong tư thế bình tĩnh nghiêm trang, đầy đủ tư thế của người có phẩm hạnh, đạo đức. Nếu chúng ta đi không có uy nghi thì người ta không chịu, họ sẽ dị nghị, không hài lòng, không tin tưởng. Nhưng không phải mình sợ cái dị nghị đó, mà sợ mình không giữ được quán niệm chân chính thôi. Lại nữa, nếu sự dị nghị nhiều quá, thì làm việc gì cũng hỏng. Cho nên phải biết đi trong quán niệm, đi trong niềm tin của mình và mọi người.

Hãy thể hiện cung cách của mình qua từng bước đi, từng cử chỉ, từng ánh mắt. Đây là những điều rất cần thiết, hiện thực trong đời sống của chúng ta. Làm sao trong mọi việc ta đừng phiền não, đừng để tâm chân thật bị vọng tưởng chen vào. Thật ra chân tâm không có gì che ngăn được.

 

Cổ đức dạy: Nếu trong lúc đi, tâm khởi phiền não thì nên biết rõ tâm và tất cả pháp đều không thể được. Chữ  “không thể được” ở đây là không có một thực thể, không gì có thể nắm bắt được. Thì tự nhiên vọng niệm dứt, đó là tu chỉ. Khi đi phải biết do tâm khiến thân thể động nên có tới lui, thành tướng đi. Nếu trong lúc tu tập tư thế đi có các thứ phiền não sanh khởi liền phải phản quán tâm trong khi đi không có tướng mạo, người đi và tất cả pháp trong khi đi rốt ráo rỗng lặng, đó là tu quán trong khi đi.

Thân thể và tâm tương thức, không tách rời. Về uy nghi đi hãy đi làm sao không để mất oai nghi, không thể vừa đi vừa chạy, vừa nhảy. Đi là phải tỉnh sáng, biết mình đang đi. Đi như vậy mới là đi quán niệm.

Quán niệm đứng

Đứng là dừng lại. Do tâm khiến cho thân thể đứng. Tư thế đứng yên với một tâm tĩnh lặng, dừng hết mọi vọng tưởng điên đảo thì còn gì an lạc bằng. Tâm bảo đứng thì đứng, tâm bảo đi thì đi. Vì vậy trong lúc đứng, tâm ta không khởi loạn động, không phiền não, không vô ký, tỉnh táo sáng suốt. Nên biết tâm này trọn không thể được, rốt ráo không tịch. Vì vậy trong lúc đứng, tâm khởi phiền não thiện ác hay vô ký liền tự lui tan, đó gọi là tu chỉ quán trong khi đứng.

Đứng làm sao cho hợp pháp, đứng ngay thẳng đàng hoàng, không nghiêng ngả, không chống nạnh, đứng trang nghiêm mà vẫn thấy thoải mái bình an, như vậy mới thể hiện tròn đầy uy nghi.

Quán niệm ngồi

Quán niệm ngồi phải như thế nào cho đúng? Có nhiều tư thế ngồi khác nhau như ngồi nhịp chân, ngồi chữ “ngũ” là thế ngồi của quan quyền, hào phú, ngồi cho thiên hạ ngán; còn kiểu ngồi tu tập phải thể hiện đạo đức, trí tuệ, từ bi, chứ không thể hiện bằng những hình thức trần tục. Lúc thụ trai, ngồi học, tiếp khách hoặc cả những lúc ngồi một mình ngồi tréo chân là không được. Vậy tư thế ngồi như thế nào để có sự oai nghi, để thiên hạ không ngán? Đó là ngồi thiền! Ban đầu tu tập ngồi thiền, ngồi một tiếng rồi đến hai tiếng, chân kết già hoặc bán kết già, chân đau, tê nhức, nhưng phải tập ngồi cho được. Hồi nhỏ vừa mới biết đi, từng bước đi chưa vững; lớn hơn một chút thì nhảy nhót tung tăng. Nhưng bây giờ phải ngồi. Càng tĩnh tọa bao lâu thì càng quý trọng bấy nhiêu.

Trước khi thành đạo, Đức Phật đã ngồi với tư thế này dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm. Ngồi thiền chính là pháp tu gốc của Phật giáo. Pháp tu nào cũng ngồi thiền. Cho đến ngày nay, người ta ngồi thiền để trị liệu. Pháp thiền tu giúp họ chữa lành tâm bệnh cũng như thân thể bệnh. Ngồi thiền giúp trị liệu nhiều bệnh. Bởi ngồi thiền giúp cơ thể được điều hòa, thêm trị liệu thuốc men và chế độ ăn uống, tự chữa lành.

Quán niệm nằm

Nằm ngủ thì dễ chứ nằm tu là một tư thế khó! Nằm rất dễ nảy sinh những ý nghĩ phóng túng. Cứ nằm tu là ngủ ngay. Cho nên chỉ có những bậc thánh nhân mới có thể tu được trong khi nằm. Các ngài muốn ngủ thì ngủ, muốn thức thì thức, tự tại trong tất cả oai nghi, tất cả pháp, nên các ngài nằm tu được. Chúng ta hễ nằm là ngủ, bởi vậy xin đừng tu nằm. tu nằm không tới, không đem lại lợi ích. Do đó trong tu tập không được nằm ngửa, không được nằm nghiêng bên trái, chỉ được nằm nghiêng bên phải mà thôi. Đó là thế nằm kiết tường, tu tập như vậy mới đúng pháp.

Tư thế nằm này vừa đẹp vừa khoa học. Tại vì nằm nghiêng bên trái sẽ đè lên tim, ngủ dễ chiêm bao hoặc bị tê cứng. Dân gian thường gọi là bóng đè. Nhưng hóa ra chỉ có mình đè lên trái tim, chứ nào có ma quỷ đè. Nằm lâu như thế tim thiếu máu, thiếu oxi, gây mệt mỏi thân thể thể. Khi ngủ mà hai chân không thẳng không suôn, sắp đặt không có trật tự thì bị ma đè, chạy không thoát. Vì vậy chỉ có thế của đức Phật nằm như trong kinh Di Giáo nói là xoay mặt gác lên tay phải, tay trái xuôi dài theo chân. Đó là thế nằm đẹp và tốt nhất.

Kết luận

Trong bốn uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm, chỉ có tư thế ngồi là an ổn nhất, có thể phát huy được và duy trì lâu dài. Tư thế ngồi thiền giúp tăng tướng và biểu trưng tinh thần tu tập tốt nhất. Ta cần nắm vững các nguyên tắc để bốn uy nghi không bị suy giảm.

(Dunji, Sưu tầm và biên soạn)

 

 

 

 

Digiprove sealCopyright secured by Digiprove © 2019 Tran  Minh