Đá Garnet

Garnet và những thông tin cần biết

Garnet Hồng ngọc lựu 

Hồng ngọc lựu Garnet là loại đá quý chứa nhiều khoáng chất silicat. Garnets là những loại đá cổ nhất được sử dụng rộng rãi kể từ thời đại đồ đồng, đặc biệt là người Ai Cập để xua đuổi mắt ác.

Garnet và những thông tin cần biết – jadehousevn.com

Nguồn gốc, lịch sử

Garnet là một nhóm lớn các khoáng chất tạo đá. Những khoáng chất này có chung cấu trúc tinh thể và thành phần hóa học tổng quát của X3Y2 (SiO4) 3. Trong thành phần đó, “X” có thể là Ca, Mg, Fe2 + hoặc Mn2 + và “Y” có thể là Al, Fe3+, Mn3+, V3+ hoặc Cr3+.

Cái tên Garnet có nguồn gốc từ tên Latin – Garenatus, có nghĩa là một quả lựu. Vì đá Garnets thiên nhiên có màu đỏ mãnh liệt của nó giống như những hạt màu đỏ lấp lánh. Garnets khác nhau về kích thước từ một hạt cát đến kích thước của một quả táo.

Trong lịch sử ngành khoáng vật học và ngọc học thì Garnets được cho là viên đá có lịch sử lâu đời nhất. Những nhà khảo cổ học đã tìm thấy một chiếc vòng hạt trang sức được làm từ đá Garnet ở Ai Cập, có niên đại hơn 5000 năm tuổi. Vào thế kỷ 18, 19, Garnets là một loại phục sức phổ biến ở châu Âu và được một số đội quân châu Á cho vào đạn nhằm tăng tính sát thương.

Garnet và những thông tin cần biết - jadehousevn.com
Garnet và những thông tin cần biết – jadehousevn.com

Những khoáng chất này phổ biến trên khắp thế giới trong các loại đá biến chất, đá lửa và trầm tích. Hầu hết garnets được tìm thấy gần bề mặt Trái đất khi một loại đá trầm tích có hàm lượng nhôm cao, như đá phiến, chịu nhiệt và áp suất đủ mạnh để tạo ra đá phiến hoặc gneiss. Garnet cũng được tìm thấy trong các loại đá biến chất tiếp xúc, các khoang magma dưới lòng đất, dòng dung nham, phun trào núi lửa nguồn sâu, và đất và trầm tích hình thành khi đá mang garnets bị phong hóa và xói mòn.

Đặc điểm

Tên khoa học Đá Granat/Garnet 
Công thức hóa học (Mg,Mn,Ca)3(Al,Fe,Cr)2(SiO)3 
Lớp Silicat 
Nhóm Granat 
Tinh hệ Lập phương
Độ cứng 6,5-7,5 
Tỷ trọng 3,5-4,2 
Màu sắc Đỏ sẫm, đỏ, hồng, đỏ nâu, da cam, vàng, lục nhạt. 
Phân bố trên thế giới Australia, Áo, Aghentina, Brazil, Ấn Độ. 
Phân bố ở Việt Nam Nghệ An, Lâm Đồng, Cao Bằng.
Hình dáng Garnets thường được cắt mài theo hình tròn, hình oval và hình nệm.

 

Garnets gồm những loại như Rhodolite màu đỏ phớt tím, Tsavorite và Demantoid màu lục, Spessartite mandarin và Malaya màu cam.

Garnet và những thông tin cần biết - jadehousevn.com
Garnet và những thông tin cần biết – jadehousevn.com

Garnet có khả năng thay đổi màu xanh từ Madagascar, một hỗn hợp pyrope-spessartine. Màu sắc của những màu xanh ngọc không giống như màu xanh sapphire trong ánh sáng ban ngày dịu hơn mà gợi nhớ nhiều hơn về màu xanh xám và màu xanh lục đôi khi được nhìn thấy trong spinel . Tuy nhiên, trong ánh sáng LED trắng , màu sắc tương đương với Sapphire màu xanh hoa ngô tốt nhất.

Phân loại

Các khoáng chất thường gặp nhất trong nhóm garnets bao gồm almandine, pyrope, spessartine, andradite, Grossular, và uvarovite. Tất cả chúng đều có một ánh thủy tinh thể, một màng trong suốt đến mờ, độ bền giòn và thiếu sự phân tách. Chúng có thể được tìm thấy dưới dạng các tinh thể riêng lẻ, sỏi mòn dòng, cốt liệu hạt và sự xuất hiện lớn. Thành phần hóa học, trọng lượng riêng, độ cứng và màu sắc được liệt kê dưới đây.

Khoáng vật Công thức hóa học Tỷ trọng Độ cứng Màu sắc
Almandine Fe3Al2(SiO4)3 4.2 7 – 7.5 Đỏ, nâu
Pyrope Mg3Al2(SiO4)3 3.56 7 – 7.5 Đỏ
Spessartine Mn3Al2(SiO4)3 4.18 6.5 – 7.5 Cam, đỏ đến nâu
Andradite Ca3Fe2(SiO4)3 3.90  6.5 – 7 Xanh, vàng, đen
Grossular Ca3Al2(SiO4)3 3.57  6.5 – 7.5 Xanh, vàng, đen, hồng, trong suốt
Uvarovite Ca3Cr2(SiO4)3 3.85 6.5 – 7 Xanh

 

Phân bố

Đông châu Phi có một loạt đá garnets với màu đẹp nhất. Kenya và Tanzania có những garnets mà không nơi nào có, đó là Tsavorite màu lục phớt vàng và Malaya màu cam.

Madagasca, Mali và Namibia cũng có nhiều loại garnet, đáng kể như Namibia sản xuất loại garnet mandarin màu cam mạnh, cũng như một số garnets demantoid.

Garnet và những thông tin cần biết - jadehousevn.com
Garnet và những thông tin cần biết – jadehousevn.com

Nguồn demantoid nổi tiếng nhất là Nga tuy nhiên việc sản xuất còn hạn chế.

Ấn độ, Thái Lan, Sri Lanka, Nam Phi và Mỹ cũng là nguồn garnes.

Garnet trong đá biến chất

Hầu hết các dạng garnet ở ranh giới mảng hội tụ nơi đá phiến đang bị tác động bởi sự biến chất khu vực. Nhiệt và áp suất của sự biến chất phá vỡ các liên kết hóa học và khiến các khoáng chất kết tinh lại thành các cấu trúc ổn định trong môi trường áp suất nhiệt độ mới. Các garnets nhôm, almandine, thường hình thành trong môi trường này.

Khi những tảng đá này biến chất, các viên ngọc hồng lựu bắt đầu như những hạt nhỏ và phóng to dần theo thời gian khi quá trình biến chất tiến triển. Khi chúng lớn lên, chúng thay thế, thay thế và bao gồm các vật liệu đá xung quanh. Ảnh dưới đây cho thấy hình ảnh hiển vi của hạt garnet đã phát triển trong ma trận đá phiến. Nó bao gồm một số hạt khoáng sản của đá chủ khi nó lớn lên. Điều này giải thích tại sao rất nhiều ngọc hồng lựu hình thành từ sự biến chất khu vực được đưa vào rất cao.

Garnet trong đá núi lửa

Garnets thường xuất hiện như một khoáng chất phụ kiện trong đá lửa như đá granit. Nhiều người quen thuộc với garnet almandine bởi vì đôi khi nó được xem như là các tinh thể màu đỏ sẫm trong các đá lửa được sử dụng làm mặt đá granite. Spessartine là một garnet màu cam được tìm thấy dưới dạng tinh thể trong các khối đá granit. Pyrope là một garnet đỏ được đưa lên bề mặt Trái đất trong các mảnh peridotite bị xé ra từ lớp phủ trong các vụ phun trào núi lửa nguồn sâu. Garnets cũng được tìm thấy trong dòng dung nham bazan.

Garnet trong đá trầm tích

Garnets là khoáng chất tương đối bền. Chúng thường được tìm thấy tập trung trong đất và trầm tích hình thành khi đá mang garnet bị phong hóa và xói mòn. Những viên ngọc phù sa này thường là mục tiêu của các hoạt động khai thác vì chúng dễ khai thác và loại bỏ khỏi trầm tích/đất bằng cách xử lý cơ học.

Ý nghĩa và công năng

Tương truyền, vào thời trung cổ con người đã dùng đá Garnets để chống lại các chất độc, vết thương, ác mộng và thậm chí là chữa chứng trầm uất, giảm sốt, chảy máu, viêm tấy và chứng đau đầu. Ngày nay, nhiều người tin rằng đá Ngọc hồng lựu tạo ra một trường bảo vệ, chống lại kẻ trộm và người có ý đồ không tốt. Cũng có người tin rằng đá Ngọc hồng lựu có khả năng chữa lành nhiều loại vết thương, điều hòa nhịp tim và mạch máu.

Đá Garnets để ngăn chặn các chất độc, hay ngay cả như chữa chứng trầm cảm, giảm sốt, vết thương, viêm tấy và chứng đau đầu. Cho đến nay, nhiều người thấy rằng đá ngọc hồng lựu có khả năng điều hòa nhịp tim và mạch máu.

Theo các nghiên cứu không chính thức thì Garnets tương thích với Chakra gốc cột sống, nó loại bỏ các rào chắn trong cơ thể và kích hoạt Kundalini (nguồn năng lượng sáng tạo dự trữ của ta). Garnets tuyệt vời cho hệ tuần hoàn và tim mạch, thường được dùng chữa các bệnh liên quan đến máu. Nó còn cải thiện hệ miễn dịch cũng như tăng cường năng lượng cho bản thân, đặc biệt tốt cho những ai gặp vấn đề với xương khớp. Garnets vàng và nâu có tác dụng với bệnh da liễu, bệnh tiêu hóa, táo bón và dị ứng. Vòng tay làm từ Ngọc hồng lựu thường được phụ nữ có bầu mang theo người để bảo vệ cho họ, giúp họ sinh nở được dễ dàng và giúp cho phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt ổn định.

Garnet có màu đỏ, những ánh lửa đỏ được xem là viên đá của tình yêu, mang lại may mắn. Nó còn là viên đá mang lại thành công trong cuộc sống, những doanh dân thường có viên đá này trong ví tiền của họ. Garnets được xem là viên đá may mắn cho những người sinh tháng 1 và 9. Nó kích thích tất cả các luân xa trong cơ thể từ cơ thể giúp cân bằng và thúc đẩy tinh thần trong cuộc sống.

(Dunji, Sưu tầm và biên soạn)

Digiprove sealCopyright secured by Digiprove © 2019 Tran  Minh