Ammonite

Ammonite

Ammonite không phải đá cùng không phải tinh thể, vậy chúng là gì, hình thành như thế nào, tại sao chúng lại nổi dánh như vậy? Hãy cùng Jade House Việt Nam (www.jadehousevn.com)khám phá kho báu độc nhất của tự nhiên nhé!

Nguồn gốc hình thành?

Ammonite là một loại đá quý hữu cơ được hình thành từ hóa thạch của những sinh vật biển hóa thạch tuyệt chủng cách đây 65 triệu năm từ kỷ phấn trắng. Có lẽ đây là một trong yếu tố làm cho viên đá này trở nên quý giá và hiếm có như thế.

Ammonite còn được gọi là ‘aapoak’, có nguồn gốc từ Kainah từ Ấn Độ, có nghĩa là “nhỏ, bò đá”. Tên thương mại khác bao gồm đá quý Amonit, korite và calcentine. Korite công ty khai thác mỏ quốc tế là nhà cung cấp thương mại hàng đầu thế giới về chất lượng đá quý Ammonite. Thuật ngữ “Amonit ‘ban đầu được sử dụng để mô tả hình dạng xoắn ốc của vỏ hóa thạch, mà giống với hình dạng của chiếc sừng của con ram.

Ammonite thường có bề mặt không ổn định hoặc sần kiểu “vẩy rồng”. Để một mức độ nào đó, điều này là bình thường, nhưng sần quá mức sẽ làm giảm giá trị của chùng. Hầu như tất cả đá quý này được lắp ráp thông qua một lớp (layering) tăng cường bảo vệ. Sử dụng lớp bảo vệ là tương đối phổ biến trong các loại đá dạng opan, nó giúp nâng cao độ bền, và trong một số trường hợp còn cải thiện được màu sắc. Nhiều mẫu vật được ổn định bằng cách ngâm tẩm polymer, epoxy hoặc nhựa. Nếu không có lớp bảo vệ tăng cường, chúng rất mong manh khi sử dụng trong đồ trang sức. chúng tồn tại ở dạng tinh khiết là có sẵn, nhưng hầu hết đều bao gồm cả đá chủ. Nguồn Ammonite được dự kiến sẽ cạn kiệt và cạn kiệt trong vòng hai mươi năm tới.

Màu sắc

Hóa thạch có màu sắc rất hấp dẫn, sống động, thường mang sắc thái của màu xanh lá cây, đỏ và tất cả các màu sắc trong dải quang phổ nhìn thấy; ngoài ra, còn có hiệu ứng ánh kim óng ánh, được cắt ra từ vỏ hóa thạch của các sinh vật biển (tương tự như bạch tuộc, mực và mực ngày nay). Vỏ ammonit hóa thạch bao gồm chủ yếu là aragonit (khoáng chất cấu thành chính của ngọc trai ) với các nguyên tố vi lượng của nhôm, bari, crom, đồng, sắt, magiê, mangan, silicon, strontium, titan và vanadi.

Chúng có màu ánh kim là kết quả của vi cấu trúc độc đáo aragonit, làm cho nó khác biệt so với hầu hết các loại đá quý khác với màu ánh kim. Thông thường, màu ánh kim là kết quả của sự hấp thụ ánh sáng, nhưng màu của Ammonite là kết quả của sự giao thoa ánh sáng làm bật tắt lớp tiểu cầu, là một phần cấu trúc hữu cơ của aragonit. Ammonite có nguồn gốc chủ yếu từ một nơi, đó là dọc theo sườn núi phía đông Canadian Rockies.

Chúng chỉ được tìm thấy trong hệ tầng Bearpaw , kéo dài từ Alberta đến Saskatchewan ở Canada và phía nam tới Montana ở Mỹ.

Đặc điểm của Ammonite

Thành phần hóa học Calcium carbonate CaCO3
Lớp Hóa thạch
Nhóm Hóa thạch
Cấu trúc tinh thể Orthorhombic
Độ cứng 4
Tỷ trọng 2.75 – 2.8
Chỉ số khúc xạ kép (lưỡng chiết) 0,155
Chỉ số chiết quang đơn 1,52 – 1,68
Màu sắc Đa dạng (xanh lá, đỏ, nâu, xám)
Màu vết vạch Màu nâu – xám
Ánh Ánh kim

 

Ammonite chỉ được tìm thấy trong hệ tầng Bearpaw , kéo dài từ Alberta đến Saskatchewan ở Canada và phía nam tới Montana ở Mỹ.

Các Ammonite thường gặp

Hematized Ammonite (bị hemetite hóa): Hiếm gặp, phần lớn ammonite trên thị trường có nguồn gốc Maroc. Đặc điểm, bị hematite (Oxit sắt) chiếm, vỏ màu đen bóng, nặng tay, thường dễ dàng bóc tách khỏi đá nền nên hầu hết được bán riêng rẽ. Nếu bị phong hóa, có hiện tượng bị dính bám mảng màu vàng của gỉ sắt.

Pyritized Ammonite (bị pyrite hóa): Hiếm gặp, thường xuất hiện trên thị trường có nguồn gốc châu Âu (Anh, Pháp, Nga..). Đặc điểm dễ nhận ra là màu vàng óng ánh của vàng găm, do bị pyrite (FeS2) chiếm, vỏ bóng, nặng tay, dễ bóc tách khỏi nền đá nên hầu hết được bán riêng rẽ. Nếu bị phong hóa, có hiện tượng bong dính bột màu vàng mùi lưu huỳnh. Thường được dùng làm trang sức. Chưa có thông tin gì về loại ammonite này tại Việt Nam.

Calcitized Ammonite (bị canxit hóa): không quá hiếm, thường xuất hiện ở hóa thạch châu Âu. Ở Việt Nam, loại này có ở Lạng Sơn, nhiều nhất ở chỗ ga Bắc Thủy, có con nặng đến khoảng chục ký. Đặc điểm dễ nhận ra là sự thấu sáng, rất mịn và bóng bẩy, nhìn giống như nhựa hoặc sáp ong. Thường có màu trắng sáng đến vàng nâu. Nếu bị phong hóa, vẫn giữ dc độ bóng, nhưng mất đi đường nét. Có thể chỉ hóa canxit một phần của vỏ ốc. Có thể được dùng trong trang sức.

Silicated Ammonite (bị cát kết hóa {?}):  nguồn gốc từ khắp nơi. Đặc điểm dễ nhận ra là bong cát, màu vàng, nâu, xám cho đến trắng, khá nhẹ, dễ sinh bụi, dễ vỡ. Phần lớn bị trầy trụa, khó toàn vẹn nếu bị phong hóa. Khá xấu, hầu như không được dùng làm trang sức, giá thành thấp. Ở Việt Nam, có thể tìm thấy  ở khu vực Tây Nguyên. Loại này thường đạt kích thước lớn, do vậy thường chọn làm mẫu vật trình bày trong bảo tàng, có giá trị rất cao.

Agatized Ammonite (bị mã não hóa): bị cát hóa, nhưng biến thành mã não. Là loại tương đối hiếm, nhưng gần đây phổ biến do khai thác lớn từ Madagascar, mặc dù có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác. Đặc điểm nhận dạng là độ trong suốt (hoặc bán trong), màu vàng cho đến cam đỏ, có đường vân sinh trưởng rất rõ, rất thường có hiện tượng kết tinh thạch anh. Đẹp, quý và thường được dùng làm trang sức. Không có thông tin về loại ammonite này tại Việt Nam.

Ammonite: là loại quý trong dòng ammonite. Đặc điểm nhận dạng là màu sắc sặc rỡ ngũ sắc, rất đẹp, có ánh lụa như xà cừ. Chỉ duy nhất xuất hiện ở bắc mỹ (bắc USA và Canada) nên giá thành rất cao. Hiếm gặp hơn có thể tìm thấy ở Madagacar, Nhật bản và vài nơi khác (mặc dù nhiều tài liệu chỉ ghi nhận ở bắc mỹ) nhưng thường là lớp mỏng, khó chế tác, trong khi ở bắc mỹ sẽ dầy, liền khối dễ chế tác. Được dùng làm trang sức dưới tên Ammonite, Kolite và là loại ammonite duy nhất được xếp vào đá quý (Gems) năm 1981 bởi CIBJO. Khi chế tác xong, có thể nhầm lẫn với Spectrolite, và Black Opal, do ít khi còn nguyên vẹn nguyên con, thường bị cắt nhỏ thành miếng.

Opalized Ammonite (bị opal hóa): hiếm hơn Ammonite nhiều, nhưng lại có giá thấp hơn Ammonite, do thường có hình dạng xấu xí hơn. Trên thị trường, nó thường được bán dưới tên Ammonite. Tuy xấu hơn Ammonite sau khi chế tác, opalized ammonite vẫn rất đẹp, màu ngũ sắc, thường gặp ở dạng đục trắng sữa giống với opal welo. Chủ yếu tìm thấy ở châu âu, ít thấy các nơi khác. Đa số trên thị trường các loại Ammonite cấp thấp (màu đơn sắc, ít sặc sỡ, hoặc loại lớp mỏng) được bán với tên gọi Opalized Ammonite.

Ý nghĩa phong thủy

Từ xưa người da đỏ đã biết sử dụng đá Ammonite làm bùa tránh tà và cầu sức khỏe. Ngày nay, những khối đá Ammonite có mầu sắc rực rỡ được coi là rất quý hiếm và có tên là “đá thịnh phát bảy mầu “. Người ta cho rằng, để Ammonite trong nhà giúp đem lại sự hưng thịnh và hạnh phúc. Nếu đem Ammonite đến cơ quan, nó sẽ đưa đến thành công trong công việc.

Để có được những viên đá Ammonite quý hiếm này thì những hóa thạch phải trải qua nhiều thử thách của thời gian tương tự như tình yêu và hôn nhân. Ammonite tượng trưng một cuộc sống hôn nhân lâu dài và hạnh phúc.

Ammonite Canada là một loại đá quý đã được sử dụng từ thời Ấn Độ cổ đại và thường được gọi là đá quý của vận may. Lý do mà viên đá quý này được gọi là đá quý may rủi là vì nó gắn liền với truyền thuyết về cách một người phụ nữ phát hiện ra viên đá quý và sau đó vận may đã được gia đình mang đến.

Digiprove sealCopyright secured by Digiprove © 2019 Tran  Minh